Saturday, July 30, 2016

10 quy định của bố vợ tương lai

10 quy định của bố vợ tương lai

1- Nếu cậu phóng xe đến nhà tôi rồi bấm còi "pim pim" thì cậu sẽ phải đi chơi tối hôm đó một mình. Tốt hơn hết là xuống xe bấm chuông.

2- Không được phép chạm vào con gái tôi trước mặt bố nó. Liếc thì được nhưng trong trường hợp ánh mắt cậu chạy xuống phía dưới cổ nó thì cậu sẽ biết tay tôi. Nếu cậu không làm chủ được mắt và tay mình, tôi và nắm đấm của tôi sẽ giúp cậu làm việc đó.



3- Cậu mặc quần xệ xuống, đến độ người ta nghĩ nó sắp tụt ra khỏi người cậu đến nơi. Nếu cậu đồng ý, tôi sẽ ghìm nó vào người cậu bằng cách dập ghim sau đó dán tem vào đó nếu cậu định mang con gái tôi ra đường.

4- Cậu đã nghe nói tới tình dục không an toàn? Nghĩa là nếu cậu định quan hệ với ai đó mà không có một thứ ba-ri-e chắn ở giữa thì cậu sẽ chết. Trong trường hợp con gái tôi, chính tôi sẽ là cái ba-ri-e đó. Nếu cậu định gì gì đó, tôi sẽ giết chết cậu.

5- Thứ duy nhất tôi muốn cậu nói là một lời hứa sẽ mang con gái tôi về nhà nguyên vẹn. Và thông tin duy nhất tôi nói với cậu về chủ đề này là "sớm".

6- Nếu con tôi phật lòng về cậu, cậu sẽ chỉ được hẹn với một mình nó mà thôi. Nếu cậu làm nó khóc, tôi sẽ làm cho cậu phải khóc.

7- Đừng có thở dài hãy tỏ ra suốt ruột mỗi khi phải đợi cả tiếng đồng hồ để con tôi xuất hiện. Nếu cậu muốn đến rạp chiếu phim đúng giờ thì nên đi một mình. Con tôi đang phải trang điểm, công việc tốn nhiều thời gian hơn cả việc vẽ bức Mona Lisa. Thay vì đứng đó nhìn đồng hồ, tại sao cậu không làm việc gì đó có ích, như lắp hộ tôi cái máy bơm nước chẳng hạn.

8-Những chỗ sau đây không thích hợp để mang con gái tôi đến: những nơi có giường, ghế sa lông hay bất kể thứ gì mềm hơn ghế gỗ, những nơi nằm ngoài tầm mắt của bố mẹ, công an và cả nữ tu sĩ, những chỗ nhảy nhót, cầm tay hôn hít, những chỗ có nhiệt độ ấm áp đến độ con tôi phải mặc quần soóc và áo may ô. Cấm không được ngồi xem bộ phim quá lãng mạn. Xem bóng đá thì được. Mà xem TV ở nhà cùng bố mẹ thì càng tốt.

9- Đừng bao giờ nói dối tôi. Trông tôi có thể già yếu, bụng phệ, mắt kém. Nhưng bất cứ điều gì xảy ra với con gái tôi , tôi đều biết hết. Tôi là chúa tàn nhẫn trong vũ trụ của cậu. Nếu tôi hỏi cậu vừa đi đâu, với ai thì cậu chỉ có một cơ hội để nói một sự thật mà thôi. Toàn bộ sự thật và không khác gì ngoài sự thật. Tôi vẫn còn khẩu súng trường, một cái xẻng và 10m2 vườn đằng sau nhà. Chớ coi thường.

10- Cuối cùng, nếu như một ngày đẹp trời nào đó, tôi mời cậu uống rượu thì điều đó không có nghĩa là các quy định của tôi đã được dỡ bỏ. Đơn giản, đó chỉ là vì tôi muốn con gái tôi vui vẻ một chút, hay cũng có thể ngày hôm đó tôi vừa trúng xổ số. Chớ vội mừng! 

Nguồn: HNO

Friday, July 29, 2016

[Film Review] The Pianist - Nghệ sĩ dương cầm

====================


1. Phim chỉ diễn tả được một nửa sự tàn khốc, sự đau khổ cũng như sự cao thượng trong quyển hồi kí. Nhưng đây vẫn là một bộ phim hay. Rất hay và cảm động.
2. Đoạn đầu được làm vô cùng xuất sắc. Hình ảnh trắng đen và tiếng đàn piano diễn tả một Warsaw bình yên trong một ngày bình thường và đẹp trời như bao ngày khác. Cho đến khi tiếng đàn bị cắt ngang bởi bom đạn. Gần hai chương sách được tóm gọn chỉ trong vài cảnh phim, quá xuất sắc.
3. Đam mê âm nhạc của Wladyslaw đã được thể hiện rất tốt trong phim. Đoạn bom đã làm nổ nát cửa kính, hai đồng nghiệp đã chạy khỏi nơi đó còn ông vẫn ngồi đàn tiếp, nhất quyết không chịu dang dở. Nhưng ấn tượng nhất là đoạn ông “đàn” trong căn hộ khi đã được nhắc phải yên lặng.
4. Phim có thay đổi vài chi tiết so với hồi kí nhưng nhìn chung thay đổi không nhiều, rất trung thành với nguyên tác.
5. Đoạn tại Umschlagplatz khi cả gia đình Szpilman trừ Wladek bị dồn lên xe lửa được thể hiện rất dữ dội đến thắt tim. Trong truyện thì lúc đó Wladek đã được kéo đi mất rồi nên không được ghi lại.
6. Cảnh thành phố sụp đổ hoang tàn lên phim quá tốt, còn ghê gớm hơn trí tưởng tượng của chef.
7. Đọc hồi kí có thể thấy được Wladyslaw Szpilman là một người hiền khô, hiền như đất luôn ấy nên Adrien Brody đúng là lựa chọn hoàn hảo cho vai diễn này. Bộ phim đúng nghĩa là một solo show và anh đã diễn rất tốt, đoạt Oscar rất xứng đáng.
8. Ngoài đời thật, Wladyslaw đàn cho đại úy Wilm bản Nocturne còn trong phim được thay bằng bản Ballade No.1, cả hai đều là của Chopin. Đặt vào bối cảnh phim thì sự thay đổi đúng là vô cùng cần thiết và cực kì đúng đắn vì Ballade No.1 được viết khi Chopin một mình ở Vienna, xa quê nhà vốn đang có chiến tranh, y hệt với tình cảnh của Wladyslaw vào lúc đó. Đoạn đó thực sự làm chef lạnh cả sống lưng: mọi đau đớn, buồn khổ, bao cảm xúc dồn nén trào ra trong từng phím đàn, từng giai điệu.
9. Phim bỏ qua đoạn viết về bộ máy tuyên truyền của báo chí Phát xít lẫn của chính phủ Ba Lan đúng là đáng tiếc hết sức.
10. Coi phim bạn sẽ không hiểu và cảm nhận được sự đáng sợ của bọn SS, Gestapo, lính Ukraine với Lithunia. Đọc truyện mỗi lần diễn tả tiếng xe quân sự là mỗi lần tim nhảy ra ngoài.
11. Tiếc một điều nữa là việc Szpilman nhiều lần muốn tự sát cũng không được nhắc tới.
12. Giờ thì đã hiểu tại sao coi phim lắm người hiểu lầm về việc Wilm cứu Wladek đến vậy, sắp xếp như vậy không hiểu lầm cũng uổng. Dưới góc độ một bộ phim thì đoạn đó thực sự quá hay, quá chất nhưng nếu đọc truyện thì mới thấy được nó cảm động hơn thế rất nhiều.  Sau khi coi xong nơi trốn của Wladek thì đại úy quay lưng đi thẳng thì tới chef cũng nghĩ chắc vì bản đàn quá sức giàu cảm xúc kia đã cứu mạng Wladek và việc Wilm giúp đỡ chỉ xuất phát từ chính nó, xuất phát từ một phút ngẫu hứng “không nỡ xuống tay”, “muốn làm người tốt nhất thời” thôi. Chỉ có đoạn này của phim là chef không thích.
Đầu tiên, Wilm Hosenfeld thuộc quân đội Đức (nhiều lính Đức đến tận cuối chiến tranh mới biết trại tập trung là cái gì), không phải thuộc đám cuồng tín SS hay Gestapo (nón ông không có huy hiệu đầu lâu xương chéo của SS) và chỉ là nhân viên văn phòng, chứ không đã không có phim để coi.
Thứ hai, ông giúp nhiều người trước đó rồi, Wladyslaw không phải người đầu tiên (coi phần review sách để biết thêm chi tiết). à không phải hứng lên là cứu người.
Thứ ba, tiếng đàn piano tả trong truyện không hay và mượt như trong phim vì cây đàn đó mấy tháng trời chưa được căn chỉnh và Szpilman chưa đụng đến phím đàn hơn 2 năm chứ không ít. Trước khi Szpilman đàn, Wilm còn nói rằng đừng lo, nếu lính có lên thì cứ trốn đi, ông sẽ nói với họ là ông thử cái đàn. Và ta biết là Szpilman đàn một bản của Chopin, lỡ như thằng SS nào đi ngang qua dưới đường (nguyên khu đó chỉ có mình Szpilman và quân lính, không còn ai khác) nghe được nó bắn cả hai chứ chẳng chơi.
Thứ tư, Wilm chỉ cho Szpilman cái gác xép vốn khó phát hiện hơn tầng áp mái mà Szpilman đang trốn và hứa sẽ đem thức ăn đến sau bản đàn, còn bắt tay Szpilman chứ không phải không nói không rằng quay lưng bỏ đi.
Thứ năm, bỏ mất đoạn đáng giá ngàn vàng khi Szpilman hỏi “Are you German?” trước khi Wilm đi vì quá ngạc nhiên (đời thủa nào một sĩ quan Đức lại đi giúp người Ba Lan chứ đừng nói đến Do Thái) và câu trả lời ngàn vàng không kém “Yes, I am! And ashamed of it, after everything that’s been happening.”
Thứ sáu, lần gặp lại sau đêm đầu kia, Wilm chào hỏi rất lịch sự chứ không cộc lốc như trong phim “Hello, are you there?” Trước khi rời đi còn động viên Szpilman “You must hang on, do you hear?”
Thứ bảy, Wilm tiếp thức ăn và thông tin. Không có ông, Szpilman có thể đã tự tử và không có phim để coi.
Thứ tám, lần gặp cuối, Wilm mang thức ăn lẫn chăn. Ông cho Szpilman áo khoác của mình trước đó chứ không phải ở lần cuối hai người gặp nhau. Đoạn đối thoại của hai người ngoài đời cảm động hơn trong phim gấp nhiều lần.
Thứ chín, đâu mất “Anh mỉm nụ cười như thường lệ của anh, nửa như phản đối, nửa bẽn lẽn và ngượng ngập” rồi hả? Đoạn thể hiện rõ con người của Wilm thế này lại cắt mất.
Thứ mười, cắt mất luôn chi tiết hai cái tên đúng là uổng, quá sức uổng.

Nguồn: Cheffamily

Thằng ngu nhất người Anh cũng nói được tiếng Anh!

Hôm rồi có đọc Dân Trí, thấy chú Joe (Canada) ngày xưa hay viết Blog nay về viết cho Dân Trí, chuyên trang 26, nghĩa là thứ 2 và thứ 6 hàng tuần Joe phải có bài (tất nhiên là có xèng). Nhưng cái sự viết đi theo giờ giấc + vốn tiếng Việt không hẳn là đã đủ --> Không biết Joe ta sẽ viết như thế nào? Có còn hấp dẫn như trước nữa không? 

Rỗi rãi, nhân mùa world Cup cả làng phờ phạc vì thức đêm thức hôm, ta cũng viết nhăng viết cuội. Họ lấy 26 thì ta lấy 37. Tất nhiên là không phải thứ 3 với thứ 7 là phải viết (Vì có ai trả tiền cho ta viết 3 - 7 đâu) mà theo kiểu dở dở ương ương, thích viết là viết. Dân 37 choa rứa!

Đầu tiên là viết về thời tiết. Sau một thời gian đi xe máy + rửa xe, và sau một thời gian đi giày da + đánh giày ta có một công thức ~ (xấp xỉ) như sau: 
1. Xe bẩn + rửa xe ~ Trời mưa (từ to tới lụt lội)
2. Giày bẩn + đánh giày ~ Trời mưa (Từ ẩm ướt tới mưa to)

Xét về phương diện khoa học thì có một sự liên quan nào đó giữa nhận thức (ý thức) và thời tiết. Tức là: Khi bản thân ý thức được rằng Xe (Giày) đã bẩn thì có nghĩa là trời sắp mưa! Vậy nên chăng ta sẽ bỏ công sức, tiền bạc, của cải, tâm huyết để làm một công trình nghiên cứu dạng: Mối liên hệ biện chứng giữa thời tiết và nhận thức làm đẹp!


Tuy nhiên, trước khi thực sự đi vào công trình nghiên cứu này, ta cũng nên nhắc lại 1 công trình nghiên cứu khác, có quy mô và tầm cỡ tương đương và đã thu được tiếng vang rực rỡ trong ngành Sinh học. 10 năm về trước trong giờ thực tập sinh học ta đã làm thực nghiệm như sau:

1.Để 1 con châu chấu trên bàn, đập bàn và hét: Nhảy ---> Con châu chấu nhảy
2. Bẻ 1 càng con châu chấu, đập bàn và hét: Nhảy ---> Con châu chấu nhảy (tất nhiên là chậm hơn)
3. Bẻ 2 càng con châu chấu, đập bàn và hét: Nhảy ---> Con châu chấu nằm yên

Từ 1,2,3 ta có kết luận: Khi bị bẻ hết càng con châu chấu sẽ bị ĐIẾC

Đây sẽ là tiền đề và là nguồn động viên lớn để ta làm tiếp công trình tầm cỡ như trên!

Tiếp theo là vấn đề tâm sinh lý: Theo một bài báo nước ngoài thì mỗi con người trong 1 ngày sẽ có vài phút bất bình thường (Mà nói toẹt ra là bị điên) - Lý thuyết này rất khó để kiểm chứng và khẳng định dứt khoát, tuy nhiên thống kê trong 2 ngày qua thì lý thuyết này rất chuẩn.

1. Đầu tiên là ngày hôm qua. Đi làm, ra về, vào thang máy thì nhớ ra quên điện thoại trên bàn, chờ thang xuống tầng 1 mới lên lại để lấy điện thoại. Nhẽ ra khi tới tầng 1 ta chỉ cần đứng trong thang máy bấm tầng cần lên để lên, thế là xong. Nhưng khổ nỗi,( đúng lúc đó thì vài phút điên kia nó diễn ra), thang tới tầng 1 ta đi ra như người khác, rồi lại cửa chờ, bấm mở cửa rồi mới đi vào để đi lên. (Đến giờ vẫn không hiểu vì sao lại làm như thế?)

2. Thứ 2 là ngày hôm nay. 5h sáng mai phải ra ga đón cậu em từ quê ra thi Đại học, nghĩa là nên đi ngủ sớm lấy sức mai còn đi đón, rồi về đi làm. Thế mà giờ này còn ngồi lọ mọ ở đây gõ linh ta linh tinh. Cái này thì điên hẳn, không phải là bất bình thường nữa!

Ngủ!

Thằng ngu nhất người Anh cũng nói được tiếng Anh!

(2010 - chắc là tầm 2h sáng một ngày đầu tháng 7)

NẾU...

NẾU...
[Cho yêu thương những ngày giông bão]

[Ngoài kia mưa giăng, ngoài kia bão nổi, ngoài kia mù khơi, ngoài kia bóng tối...]

Nếu thật rồi em phải  đi
Còn ta giữa trời thương nhớ
Nén lại niềm riêng dang dở
Sợ em thảng thốt giật mình

Sợ buồn che kín mắt xanh
Sợ môi em run thổn thức
Sợ đêm dội vang lồng ngực
Em giờ đang buồn hay vui ?

Sợ ta lạc lõng trong đời
Mình em ngược chiều gió thổi *
Sợ đêm về đơn chăn gối
Khóc thầm giữa những cơ mơ

Còn gì để ta mong chờ ?
Chiều về buồn rơi ngơ ngác**
Xa em rượu nồng thành nhạt
Nhớ em khắc khoải gọi thầm

1:30 - 5.6.2012

* : Ý thơ Xuân Quỳnh
** : Ý thơ Trịnh Thanh Sơn

Thursday, July 28, 2016

[Film & Book Review] The Boy in the Striped Pyjamas - Cậu bé trong bộ Pyjama sọc

=============================== 

Cuốn sách này mình đang đọc dở, đã đọc tới  lúc Bruno mặc bộ "Pyjama sọc" và đi qua bên kia hàng rào... Mình đã hình dung ra xong câu chuyện, đã nghĩ về một kết thúc "không thể buồn hơn"


Như bìa sau của cuốn sách này viết - đại ý rằng tốt nhất đừng nên kể trước điều gì về nội dung, cứ đọc, cứ theo chân hai cậu bé, thế thôi.

Một cuốn sách về chiến tranh, nhưng không có bom đạn khói lửa, vậy mà ám ảnh - buồn đến vô cùng!

 

 Mình có đọc một bài Reivew rất hay về sách, nhưng hé lộ nhiều nội dung thế nên mình không Post ở đây - Thay vào đó là một bài viết khác cảm nhận về phim mình copy từ Quaivatdienanh.vn

Nỗi buồn tuổi thơ của The Boy in the Striped Pyjamas

Tôi đang ngồi ở đây sau buổi tan làm, gõ phím những dòng tâm sự mà tôi nghĩ không thể giữ nổi, cũng không thể tìm ai tỏ bày. Đã nhiều ngày qua rồi mà mỗi khi nhớ lại vẫn thấy thật ám ảnh, day dứt. Bạn nghĩ tôi bị làm sao? Tôi buồn! Buồn vì xem bộ phim The Boy in the Striped Pyjamas.
Cậu bé Bruno 8 tuổi, thích đọc sách thám hiểm,
thích chạy nhảy bay lượn, thích chơi xích đu...
Một bộ phim mà diễn viên chính là cậu bé mới 8 tuổi, vẻ ngây thơ làm ta thật đau lòng. Nhân vật chính của The Boy in the Striped Pyjamas là cậu bé Bruno ấy, cậu bé 8 tuổi, thích đọc sách thám hiểm, thích chạy nhảy bay lượn, thích đu xích đu, có đôi mắt thơ ngây, trong veo như bóng nước mùa đông vậy. Một cậu bé bình thường nhưng không bình thường khi sống vào thời Thế chiến 2, tại nước Đức, đất nước của chủ nghĩa phát xít đã gieo rắc biết bao đau thương cho nhân loại. Số phận cậu bé cũng không bình thường khi định mệnh đặt cha cậu là chỉ huy của một trại tập trung.

Bánh xe số phận đã đưa cậu bé (do tò mò) vô tình đi đến hàng rào trại tập trung và gặp một cậu bé người Do Thái trạc tuổi mình tên Schmuel. Tình bạn của hai đứa trẻ sẽ thật bình thường trong xã hội ngày nay, nhưng rất khác thường vào thời ấy, Thế chiến thứ 2, giữa một bên là người Đức và một bên là người Do Thái.
Tuổi thơ đau khổ trong trại tập trung của Schmuel
chỉ vì cậu bé là người Do Thái
Một điều hiển nhiên ai cũng biết, chiến tranh chẳng mang lại điều gì tốt đẹp cả, nhất là với trẻ em. Nhưng kỳ lạ, trong bối cảnh thế chiến nhưng phim không có tiếng súng, không có máu me. Tuy nhiên, suốt cả mạch phim, cái không khí lạnh buồn của chiến tranh ấy quanh quẩn đâu đó, ở tiếng thét đầy tính quân đội của anh lính Kotler, của người cha Raft, ở tiếng gầm của xe tải và cả ở mùi của những người bị thiêu trong trại tập trung. Nhưng những chi tiết ấy chỉ để nhấn mạnh thôi, cái tàn bạo vô hình mà chiến tranh tạo ra chính là sự chia cắt, sự cách biệt.

Sự chia cắt ấy là bất đồng quan điểm giữa bà nội và ông nội Bruno, giữa bà nội và người cha; là khủng hoảng trong mối quan hệ vợ chồng của bố mẹ Bruno; là sự khác nhau trong sở thích giữa người chị và em trai. Sự cách biệt cay nghiệt tàn độc giữa gia đình Bruno với người giúp việc Pavel (vốn là một tù nhân trong trại tập trung) và rõ nét nhất chính là sự cách biệt giữa số phận của hai cậu bé Bruno và Schmuel, một là con trai của sĩ quan Đức Quốc xã, một là con trai thợ sửa đồng hồ người Do Thái.

Cái hàng rào của trại tập trung chính là lằn ranh ngăn cách hai con người của hai thế giới khác biệt, một bên là thế giới địa ngục của trại tập trung; một bên là khoảng trời tự do của cuộc sống bình thường.
Hàng rào kẽm gai không chia cắt được hai đứa trẻ
Nhưng tình bạn vốn giản dị, nó nảy nở bất chấp hoàn cảnh khác biệt đến đâu. Trong phim ta không thể nào quên được ánh mắt của hai cậu bé, ánh mắt hiện lên số phận của chúng. Một ánh mắt đầy sợ hãi, luôn cúi xuống của Schmuel; một ánh mắt trong veo, ngây thơ, luôn nhìn đời đầy lạc quan của Bruno. Tuy nhiên, hai ánh mắt ấy luôn phảng phất nét buồn bã, xa xôi, mông lung. Vì sao?

Schmuel thì dễ hiểu, cuộc sống trong trại tập trung không thể nào làm đôi mắt người ta vui vẻ được. Nhưng còn Bruno? Trẻ thơ là vậy, ta có thể lừa dối chúng tất cả nhưng không thể lừa dối được cảm xúc, cảm nhận của chúng. Đó là điều mà những sách vở ca ngợi lý tưởng quốc gia của ông giáo sư không thể làm được cũng như bộ phim giả dối về trại tập trung mà người bố Bruno tạo ra có thể che mắt. Cậu bé Bruno có thể rất yêu bố mẹ, gia đình mình, nhưng không thể không sợ hãi trước sự độc đoán và những tiếng hét của bố, không thể không khóc trước số phận của bác Pavel, không thể không hoang mang trước sự u uất của mẹ, sự thay đổi của người chị và không khí chiến tranh quanh mình.

Tuy nhiên, dù hoang mang thì bản chất của con nít vẫn là ngây thơ. Bruno vẫn tin tưởng và lý giải mọi sự theo xu hướng tốt đẹp, như chính con người cậu bé. Chưa bao giờ mà sự ngây thơ của một cậu bé lại khiến ta đau lòng đến vậy. Đau lòng vì cậu bé bị lừa dối, vẫn ngây thơ tin tưởng những điều xấu xa là tốt đẹp. Còn nỗi buồn nào hơn thế nữa! Và chính sự ngây thơ ấy, sự tin tưởng ấy đã biến thành lòng nhiệt thành để cậu bé mặc vào người bộ pyjama sọc, chui qua hàng rào, bước vào trại tập trung để giúp cậu bé Schmuel tìm bố. Người bố mà ta thừa biết là đã bỏ mạng trong lò thiêu của trại tập trung.
Đôi mắt trong veo của Bruno tràn ngập nỗi buồn
Cảnh cuối phim là cảnh cho dù gỗ đá đến đâu cũng không thể cầm lòng được. Thực tại thật xót xa khi hai cậu bé đi tìm bố cũng là đi vào chỗ chết mà không hề hay biết. Ánh mắt ngơ ngác của hai cậu bé cứ như khiến ta muốn la lên: “Đừng đi nữa, quay lại đi!” Cái kết quá đỗi tàn khốc dù chẳng thấy máu me, cũng không thấy xác chết, chỉ có ánh mắt trong veo của Bruno sáng lên lần cuối cùng trước khi lò thiêu đóng cửa. Người cha của Bruno đã tạo nên cái lò nung cho chính con trai mình. Bruno chết trong chính lý tưởng mà người cha tạo dựng.

Cái siết tay cuối cùng của hai cậu bé cũng siết chặt con tim của bất cứ ai. Dù cận kề cái chết, cả hai vẫn luôn tin tưởng vững chắc vào nhau. Cái siết tay đơn giản và cao cả, đó chính là cái siết tay của lòng trung thành và tin tưởng tuyệt đối trong tình bạn. Điều mà chiến tranh tưởng chừng đã dập tắt vẫn tìm thấy ở nơi không ai ngờ.

Bộ phim không đơn thuần là phim chiến tranh, chắc chắn cũng chẳng là phim thiếu nhi. Bộ phim đã mượn lăng kính trong sáng của tuổi thơ để phản chiếu những điều tối tăm, xấu xa nhất của tội ác chiến tranh. Nó chưng cất và hòa quyện những điều đẹp nhất của tuổi thơ, của tình bạn cùng những xót xa, đau đớn, tăm tối nhất của hiện thực tàn khốc.
Ánh mắt tràn ngập tin tưởng và niềm vui của Schmuel
khi được Bruno nắm chặt tay
Như lời của nhà thơ John Betjeman được trích dẫn ở đầu phim: “Childhood is measure out by sound and smell and sight, before the dark hour of reason grows.” (Tuổi thơ được đong đếm bằng âm thanh, mùi hương và cảnh đẹp, trước khi thời khắc đen tối của lý trí trỗi dậy.)

The Boy in the Striped Pajamas (2008), thời lượng 94 phút, loại PG-13
Đạo diễn: Mark Herman
Kịch bản: John Boyne (tiểu thuyết), Mark Herman (chuyển thể)
Asa Butterfield trong vai Bruno, Jack Scanlon trong vai Schmuel
© Xương Rồng Sa Mạc @Quaivatdienanh.com

 

Tuesday, July 26, 2016

[Film Review] The Good, the Bad and the Ugly - Người tốt, Kẻ xấu và Tên vô lại - 1966

==========================
Thiện, ác, tà (tiếng Ý: Il buono, il brutto, il cattivo, tiếng Anh: The Good, the Bad and the Ugly, còn được dịch Người tốt, kẻ xấu và tên vô lại hay Tốt, Xấu và Tồi tệ) là một bộ phim cao bồi của đạo diễn Sergio Leone với sự tham gia của các diễn viên Clint Eastwood, Eli Wallach, Lee Van Cleef. Nó được xem như một trong những phim cao bồi hay nhất, hiện đang xếp hạng thứ 4 trong top 250 phim hay nhất mọi thời đại của IMDB

Nội dung

Lấy bối cảnh thời chiến tranh Nam-Bắc, cả ba người Thiện, Ác, Tà đều theo đuổi một mục đích là đi tìm một kho vàng của quân đội được chôn dưới một ngôi mộ. Trong quá trình tìm kiếm kho vàng, ba người Thiện Ác Tà từng đôi một cùng hợp tác và lừa gạt lẫn nhau. Đến cuối phim họ cùng đến ngôi mộ và tại đây diễn ra cuộc đấu súng tay ba.

Diễn viên

  • Clint Eastwood đóng vai Thiện (người tốt). Đó là một kẻ vô danh (the Man with No Name) sống bằng nghề lùng cướp để lãnh thưởng, sống theo những nguyên tắc của mình đặt ra, thỉnh thoảng bênh vực cho công lý. Cái tên "Blondie" (Tóc Vàng) là do Tuco gán cho.
  • Lee Van Cleef đóng vai Ác (kẻ xấu), tên là "Angel Eyes" (Mắt Thiên thần), một kẻ tàn nhẫn, bạo ngược, giết người không gớm tay.
  • Eli Wallach đóng vai Tà (tên vô lại), tên là Tuco, sống bằng nghề trộm cướp.

Hậu trường

Phim lần đầu tiên được trình chiếu tại Ý vào ngày 23 tháng 12 năm 1966 và khoảng một năm sau được trình chiếu tại Hoa Kỳ. Ngoài ba diễn viên chính là người Mỹ, số còn lại gốc Âu Châu cho nên mỗi tài tử nói theo tiếng nói riêng của mình. Khi trình chiếu ở nước nào, thì tiếng nước đó được lồng vào.
Cách ngậm xì gà, lối bắn súng, quay súng bỏ vào bao của Clint Eastwood, nhất là dáng cao dong dỏng và thái độ ngang tàng lạnh lùng của tài tử này, cùng với tiếng nhạc dồn dập có tiếng huýt gió của nhà soạn nhạc Ennio Morricone đã khiến cho phim này rất ăn khách.
Cuốn phim này cùng với hai phim Per un pugno di dollari (A Fistful of Dollars hay "Một nắm đô la") và Per qualche dollaro in più(For a Few Dollars More hay "Cho vài đô la thêm nữa") đã trở thành một bộ ba (trilogy) phim cao bồi bất hủ của Sergio Leone.

Monday, July 25, 2016

Bệnh gan

     Sáng nay mình đọc được một bài về "Dấu hiệu bệnh gan" - có đoạn - Không muốn vận động dưới bất kỳ hình thức nào. 

     Chao ôi, vậy là mình đã bị căn bệnh quái ác này hơn 30 năm nay. Ấy thế mà từ bé bố mẹ mình không nói thật cho mình biết mà lại gọi chệch căn bệnh gan đấy là lười, là nhác, là sưa sườn, trượn rọt... Và thường điều trị tạm thời cho mình bằng roi vọt. 

     Tất nhiên là roi vọt có thể chữa được bệnh Gan, vì sau đấy mình đã lao động hăng say hơn. Nhưng một cách triệt để thì không. Chỉ được một lúc là tái phát lại. 

     Thế đấy, mình đã bị bệnh Gan rất nặng "Không muốn lao động dưới bất kỳ hình thức nào" 

================================
 Chuyện bịa trên một chuyện bịa khác!

[Film Review] Schindlers List - Bản danh sách Schindler - 1993

============================= 
Trong kho tàng điện ảnh nhân loại về cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai còn rất nhiều những tác phẩm lớn cùng những câu chuyện ít người viết về chúng. Thế giới điện ảnh sẽ tiếp tục trở lại đề tài này vào một dịp khác và trước khi tạm khép lại loạt bài điện ảnh về cuộc chiến bi tráng này, xin giới thiệu câu chuyện về một bộ phim không thể bỏ qua, một kiệt tác khiến nhân loại phải rơi nước mắt: Schindlers List (Bản danh sách Schindler).

Một câu chuyện phủ bụi suốt 30 năm

Ít ai nghĩ đến bộ phim đã làm cả thế giới phải thổn thức này, lại xuất phát từ ước vọng nhỏ bé của một người rất bình thường: ông Poldek Pfeifferberg - một người Ba Lan gốc Do Thái, sau Thế chiến thứ hai, ông di cư sang Mỹ và đổi tên là Leopold Page. Poldek tâm nguyện rằng sứ mạng của đời ông là phải bằng mọi cách đưa câu chuyện về hành động – còn hơn cả anh hùng – của vị cứu tinh ra trước ánh sáng. Tên của vị cứu tinh là Oskar Schindler, người đã bất chấp mọi nguy hiểm để cứu sinh mạng hơn một ngàn người Do Thái tại Ba Lan (trong đó có Poldek) vào thời kỳ diễn ra nạn diệt chủng người Do Thái.

Năm 1963, Poldek cố gắng sản xuất một bộ phim tiểu sử về Oskar Schindler cùng với hãng MGM, với kịch bản do Howard Kock viết, nhưng rốt cuộc không có sự thỏa thuận nào đạt được. Năm tháng trôi qua, Poldek – giờ là chủ một cửa hàng bán đồ da ở Beverly Hills – dù tuổi tác đã chồng chất, ông vẫn kiên nhẫn kể đi kể lại hàng trăm lần câu chuyện của vị ân nhân Oskar Schindler cho tất cả những nhà văn và nhà sản xuất nào đã từng tới tiệm của ông…, nhưng chả ai quan tâm…

Vào một ngày tháng 10/1980, tác giả người Úc Thomas Keneally đang trên đường trở về quê nhà sau một buổi ký tặng sách, ông ghé cửa tiệm của Poldek để mua một chiếc cặp da mới. Trong khoảng thời gian Keneally chờ thanh toán bằng thẻ tín dụng, Poldek cố thuyết phục Keneally bước vào căn phòng ở phía sau, nơi cất giữ hai chiếc tủ chứa đầy những tài liệu mà ông đã thu thập được mấy chục năm qua. Sự khẩn khoản và nhiệt tình của Poldek đã dẹp tan sự miễn cưỡng của Keneally, và nhà văn này quyết định biến dự định ấp ủ suốt hàng chục năm của Poldek Pfeifferberg thành cuốn sách kế tiếp của mình. Năm 1982, cuốn tiểu thuyết Schindler’s Ark (Chiếc rương của Schindler) ra đời.

Chủ tịch Sid Sheinberg của tập đoàn giải trí MCA gửi đạo diễn Steven Spielberg một bài bình luận về cuốn sách của tờ New York Times. Spielberg kinh ngạc trước câu chuyện về Oskar Schindler, ông hỏi đùa rằng câu chuyện có thật hay không. Spielberg “bị cuốn hút vào bản chất nghịch lý của Schindler… một tên phát xít lại cứu người Do Thái ư?… Điều gì đã khiến một người đàn ông giàu có như thế đột nhiên đánh đổi tất cả những gì đã có để cứu mạng những sinh linh Do Thái tội nghiệp này?”

Spielberg bày tỏ sự quan tâm để hãng phim Universal mua bản quyền cuốn tiểu thuyết. Đầu năm 1983, Spielberg gặp gỡ Poldek Pfefferberg và cho biết ông sẽ đưa câu chuyện về Schindler lên màn ảnh. Poldek mừng rỡ hỏi: “Xin hãy cho tôi biết, khi nào ông bắt đầu sản xuất bộ phim?” Spielberg trả lời: “10 năm, tính từ bây giờ!”. Sau này (năm 1993) phát biểu khi nhận giải Oscar đạo diễn phim Schindler’s List, Spielberg đã trân trọng dành lời cảm ơn đầu tiên đến Poldek Pfefferberg (tên ghi đoạn cuối phim là Leopold Page).

Và hành trình 10 năm

Thời điểm 1983, Steven Spielberg chỉ mới 37 tuổi nhưng đã là một đạo diễn nổi tiếng toàn cầu với hàng loạt bộ phim “bom tấn”. Cầm trên tay dự án “làm lương tâm ông day dứt”, Spielberg quyết định sẽ sản xuất mà không làm đạo diễn vì ông cho rằng mình chưa đủ chín chắn để thực hiện một bộ phim về thảm họa diệt chủng người Do Thái (Holocaust). Mặc dù Steven Spielberg là cái tên rất “nặng ký” tại Hollywood, nhưng nhà đầu tư nào cũng lắc đầu từ chối vì câu chuyện này quá thương tâm, sợ không thu hồi nổi vốn! Còn một vấn đề khá hóc búa nữa là chọn đạo diễn nào?

Năm 1988, Martin Scorsese được mời vào ghế đạo diễn, nhưng ông khước từ vì cảm thấy mình không thể làm công việc này hay bằng một đạo diễn gốc Do Thái. Spielberg cố gắng chuyển dự án cho đạo diễn Roman Polanski, nhưng ông này cũng từ chối vì chủ đề đau lòng này chạm đến nỗi đau của riêng cá nhân ông (mẹ của Polanski bị chết tại trại tử thần Auschwitz, còn Polanski lúc 8 tuổi đã trốn thoát khỏi khu Do Thái Kraków. Mãi đến năm 2002, Polanski mới đạo diễn một bộ phim về Holocaust - phim The Pianist).

Hai đạo diễn Sidney Lumet, Sydney Pollack cũng đã được nhắm tới, kể cả đạo diễn lão thành Billy Wilder - người góp phần viết bản thảo đầu tiên của kịch bản này - đã bày tỏ mong muốn được đạo diễn bộ phim “để tưởng niệm hầu hết những thành viên gia đình đã bỏ mạng tại trại tử thần Auschwitz”. Nhưng giờ chót, vì lý do sức khỏe, ông đành phải từ chối, và khuyến khích Steven Spielberg nên đạo diễn phim này.


Động cơ thúc đẩy Spielberg quyết định đạo diễn Schindler’s List là sau khi nghe buổi điều trần về nạn diệt chủng ở Bosnia, và những người phủ nhận nạn diệt chủng người Do Thái. Với sự trỗi dậy của Tân Phát xít sau sự sụp đổ của Bức tường Berlin, ông lo lắng rằng mọi người đang chấp nhận sự trở lại hẹp hòi về chủng tộc, giống như chủ nghĩa phát xít những năm 1930. Ngoài ra, Spielberg đang ngày càng bị thu hút vào di sản Do Thái của gia đình ông trong việc nuôi dạy con cái - cũng là nguyên nhân chính đi đến quyết định của ông.

Từ năm 1983, tác giả Thomas Keneally đã được mời chuyển thể cuốn sách của mình thành một kịch bản dài 220 trang, nhưng câu chuyện lại không đủ cô đọng. Spielberg mời Kurt Luedtke - đoạt Oscar kịch bản chuyển thể Out of Africa - viết bản thảo kế tiếp. Gần bốn năm sau, Luedtke đầu hàng vì ông thấy sự thay đổi con tim của Schindler hướng về người Do Thái thật quá khó tin! Cuối cùng, Spielberg mời trở lại Steven Zaillian – người đã được Martin Scorsese mời viết kịch bản, nếu ông ngồi ghế đạo diễn – và theo yêu cầu của Spielberg, kịch bản ban đầu của Zaillian từ 115 trang phải kéo thành 195 trang.

Chủ tịch Sid Sheinberg bật đèn xanh cho bộ phim với một điều kiện: Spielberg phải làm Jurassic Park trước! Spielberg sau này cho biết: “Ông ấy biết rằng một khi tôi đạo diễn Schindler’s List trước, thì sẽ không thể làm được Jurassic Park”. Thú vị là đồng sản xuất với Spielberg là nhà sản xuất Branko Lustig, khi còn bé đã từng bị giam cầm và may mắn sống sót tại trại tử thần Auschwitz. Sau này khi lên nhận giải Oscar, ông tiết lộ số áo tù của mình là A3317.

Đi tìm các nhân vật trong phim

Quan trọng nhất là vai nhà doanh nghiệp, thành viên Đảng quốc xã, Oskar Schindler. Ban đầu diễn viên Thụy Điển Stellan Skarsgård, rồi đến diễn viên Thụy Sĩ Bruno Ganz được chấm cho vai này, nhưng họ đã từ chối. Các ngôi sao Hollywood như Warren Beatty, Kevin Costner, Mel Gibson, và cả Harrison Ford đều tỏ ra quan tâm đến vai diễn này, nhưng Spielberg chỉ muốn chọn những diễn viên châu Âu và càng ít nổi tiếng càng tốt bởi ông lo ngại rằng, vị thế của các ngôi sao điện ảnh sẽ làm người xem mất tập trung vào những sự kiện chính của bộ phim. Cuối cùng người được chọn là diễn viên người Bắc Ailen Liam Neeson sau khi Spielberg xem anh diễn xuất trong vở kịch Anna Christie trên sân khấu Broadway.

Tên chỉ huy phát xít thú tính Amon Göth là nhân vật có thật tại trại Kraków. Spielberg đã chọn một diễn viên sân khấu người Anh chẳng mấy ai biết đến, Ralph Fiennes, sau khi Spielberg xem diễn xuất của anh trong bộ phim truyền hình A Dangerous Man: Lawrence After Arabia và Emily Brontë's Wuthering Heights. Spielberg nói về buổi thử vai của Fiennes rằng: “Tôi nhìn thấy ở Fiennes vẻ ác độc đầy nhục dục. Diễn xuất của anh ta rất tinh tế, có những khoảnh khắc tử tế hiện ra trên đôi mắt rồi ngay lập tức chuyển sang lạnh lùng”. Để đóng vai này Ralph Fiennes phải liên tục uống bia Guinness để tăng 13 kg. Anh xem nhiều bộ phim tài liệu lịch sử và trò chuyện với những người tù sống sót từng biết về Göth. Khi mặc trang phục sĩ quan SS, Fiennes trông giống Göth tới mức bà Mila Pfefferberg, một người sống sót sau nạn diệt chủng ở trại Kraków, vừa nhìn thấy Fiennes tại phim trường đã sợ run bắn người lên!

Diễn viên có tên tuổi duy nhất trong phim là nam diễn viên người Anh, Ben Kingsley - từng đoạt giải Oscar vai chính trong phim Gandhi - thủ vai Itzhak Stern, viên kế toán người Do Thái, người đã lập bản danh sách cứu người cho Schindler. Tổng cộng trong phim có 126 vai diễn có lời thoại. 30.000 diễn viên phụ được mời tham gia trong quá trình bấm máy. Spielberg đã chọn con em của những người Do Thái được Schindler cứu cho những vai diễn chủ chốt nói tiếng Do Thái, và mời những người Ba Lan Công giáo đóng vai những người sống sót. Trong thời gian quay, các diễn viên Đức đóng vai sĩ quan SS thường tới gặp Spielberg và nói: “Cám ơn ông đã cho tôi giải tỏa những bí mật của gia đình tôi bằng cách đóng trong phim của ông”. Khi quay được nửa chặng đường, Spielberg nảy ra ý định thực hiện phần kết trong đó 128 người (còn sống) được Schindler cứu, bày tỏ lòng thành kính của họ đối với Schindler trước mộ phần của ông tại Jerusalem. Các nhà sản xuất đã nhanh chân tìm thấy những người thật được khắc họa trong phim.

Nước mắt đổ trên trường quay

Steven Spielberg bắt đầu thực hiện Schindler’s List tại Ba Lan trong khi bộ phim “bom tấn” Jurassic Park (1993) của ông đang trong giai đoạn cao điểm làm hậu kỳ, khiến Spielberg đồng thời phải kiểm soát bộ phim đó qua vệ tinh, với sự trợ giúp hết lòng của người bạn thân George Lucas.

Chính phủ và nhân dân Ba Lan tuy dành cho đoàn phim rất nhiều thiện cảm, nhưng bộ phim lại không được phép quay tại 2 địa điểm thật, bối cảnh quan trọng chính của phim, là Trại lao động cưỡng bức ở Plaszów và trại tử thần Auschwitz. Hai bản sao mô phỏng như thật đã được xây dựng là một trong những bối cảnh lớn nhất được dựng ở Ba Lan. Bối cảnh này được xây dựng theo sơ đồ của trại nguyên gốc. Đoàn phim đã xây dựng 34 tòa nhà, 7 tháp canh và tái tạo con đường dẫn vào trại được lát bằng những tấm bia mộ của người Do Thái. Để thu thập các trang phục cho 20.000 diễn viên phụ, các nhà thiết kế trang phục đã đăng quảng cáo trên cả nước Ba Lan để mua lại những bộ quần áo cũ từ những thập niên 1930 và 1940. Rất nhiều người Ba Lan đã hăm hở bán lại quần áo mà họ vẫn còn sở hữu cho đoàn phim.

Ban đầu Spielberg tính sử dụng tiếng Đức và Ba Lan trong những cảnh tái tạo cảm giác thật như trong quá khứ, và sử dụng tiếng Anh để nhấn mạnh những điểm kịch tính. Nhưng sau đó ông lại đổi ý dùng tiếng Anh hầu như toàn bộ vì e rằng mình sẽ không thể đánh giá chính xác sự diễn xuất của các diễn viên bằng những ngôn ngữ xa lạ, đồng thời đó sẽ là nguyên do khiến khán giả có thể đưa mắt ra khỏi màn ảnh và nhìn cái khác!

Schindler’s List được khởi quay vào ngày 01/03/1993 tại Kraków, Ba Lan. Thời gian quay bộ phim là khoảng thời gian vô cùng xúc động đối với cá nhân Spielberg, vì chủ đề của bộ phim buộc ông đương đầu với những ám ảnh thời thơ ấu. Chẳng hạn như chủ nghĩa bài Do Thái mà ông đã từng phải đối mặt, hay những câu chuyện về Holocaust mà ông nghe các nhân chứng sống kể lại… khiến Spielberg hầu như khóc suốt thời gian quay. Tuy ngồi ghế đạo diễn, nhưng ông không dám đứng xem lúc quay cảnh những người Do Thái lớn tuổi bị bọn Đức lột trần truồng thả chạy rông, để những gã bác sĩ phát xít lựa chọn đưa tới lò thiêu sống Auschwitz!

Diễn biến trong cảnh bọn phát xít thanh trừng khu Do Thái ở Krakow chỉ dài một trang trong kịch bản, nhưng Spielberg đã biến thành 20 trang và ông chắc chắn rằng 20 phút đau thương trên màn ảnh này có thể làm thắt lòng bất cứ ai đã từng xem qua. Nó hoàn toàn dựa theo lời kể của các nhân chứng còn sống.

Một vài nữ diễn viên đã nghẹn ngào khi quay cảnh tắm vòi sen, trong đó có một người đã từng được sinh ra tại một trại tập trung. Còn diễn viên Ben Kingsley (đóng vai thư ký Itzhak Stern), trong lúc quay lúc nào cũng giữ trong túi áo khoác của mình một bức ảnh của Anne Frank – người thiếu nữ chết trong một trại tập trung Do Thái, và là tác giả của cuốn Nhật ký Anne Frank nổi tiếng, viết về nạn diệt chủng Holocaust.

Vợ Spielberg, diễn viên Kate Capshaw và 5 đứa con luôn luôn sát cánh bên ông trên trường quay, và sau này ông đã cám ơn vợ mình “đã giải cứu tôi trong 92 ngày liên tiếp… khi mọi thứ đã trở nên quá đau khổ!”. Cha mẹ của Spielberg cùng với một người giáo sĩ Do Thái cũng thường xuyên đến phim trường thăm ông. Thậm chí, do không khí quá căng thẳng, cứ hai tuần một lần, bạn Spielberg là diễn viên hài Robin Williams lại gọi điện để lên dây cót tinh thần cho ông bằng nhiều câu chuyện đùa dí dỏm!

Spielberg cầm chắc bộ phim sẽ thất bại về doanh thu nên ông kiên quyết không nhận thù lao. Ông cho rằng đồng tiền kiếm được trên thảm kịch của người Do Thái là “những đồng tiền máu”.

Bộ phim trắng đen đắt nhất từ trước đến nay

Thật ngạc nhiên khi Spielberg quyết định không lên kế hoạch cho bộ phim bằng kịch bản hình (storyboard) – một điều gần như là quy định bất thành văn ở Hollywood và trên thế giới. Sau khi xem hai bộ phim tài liệu về đề tài Holocaust The Twisted Cross (1956) và Shoah (1985), Spielberg quyết định chọn phong cách tài liệu cho Schindler’s List. Ông cũng gây bất ngờ khi chọn Janusz Kaminski – một nhà quay phim trẻ người Ba Lan lúc ấy còn rất vô danh, đảm trách phần hình ảnh (Từ sau Schindler’s List, Janusz đã trở thành nhà quay phim “ruột” trong tất cả những bộ phim của Steven Spielberg sau này).

40% bộ phim được quay bằng camera cầm tay, Spielberg cảm thấy rằng điều này sẽ tạo cho bộ phim tính tự nhiên, sắc bén, và hợp với chủ đề của bộ phim. Trong phim này, phong cách quay hoàn toàn là của chính ông. Ông tự hào khoe rằng đây là một trong những bộ phim hiếm hoi, không có cảnh nào sử dụng cần cẩu, không steadicam (hệ thống giảm xóc), vứt bỏ ống kính zoom, và tống khứ gần như tất cả những thiết bị hiện đại thường hay sử dụng trong các bộ phim lớn.

Quyết định quay bộ phim chủ yếu bằng trắng đen là một sự táo bạo đầy rủi ro, nhưng nó làm nổi bật thêm phong cách tài liệu của kỹ thuật quay phim được so sánh với phong cách điện ảnh trước đây như Chủ nghĩa Biểu hiện của Đức và Chủ nghĩa Tân hiện thực của Ý. Kaminski nói rằng mình muốn đưa vào bộ phim một cảm giác vượt thời gian, để khán giả sẽ “không cảm nhận được nó đã được thực hiện vào khi nào. Đó là tất cả những gì mà tôi đã thấy và hình dung về Holocaust… chúng là những hình ảnh trắng đen ảm đạm toàn diện!”.

Chủ tịch của Hãng Universal, Tom Pollock, yêu cầu Spielberg quay bộ phim bằng âm bản màu, để sau này khi phát hành băng đĩa sẽ dễ bán hơn, nhưng Spielberg không muốn “tô điểm cho các sự kiện đẫm máu”. Quay trắng đen mở ra nhiều thách thức cho ê kíp quen làm phim màu. Allan Starski, nhà thiết kế sản xuất, phải làm cho các bối cảnh tối hơn hoặc sáng hơn diễn viên trong cảnh quay, để người và cảnh không lẫn lộn vào nhau. Trang phục phải có sự khác biệt với nước da hay màu da của diễn viên được sử dụng trong bối cảnh.

Spielberg tiếp tục mời John Williams - người nhạc sĩ quen thuộc trong tất cả các phim của ông – soạn nhạc nền cho Schindler’s List. Nhưng chủ đề của bộ phim khiến cho nhà soạn nhạc danh tiếng này phải bối rối, vì ông cảm nó quá khó. Ông bảo với Spielberg: “Anh cần phải có một nhà soạn nhạc giỏi hơn tôi để viết nhạc cho phim này”. Spielberg đáp lại: “Tôi biết. Nhưng họ đều chết hết cả rồi!”. Câu nói đó là một sự khích lệ rất lớn với Williams, giúp ông cho ra đời một trong những giai điệu hay nhất trong lịch sử điện ảnh. Williams đã chơi bản nhạc chủ đề chính bằng piano, và theo sự gợi ý của Spielberg, ông mời danh cầm người Do Thái Itzhak Perlman biểu diễn với cây violin. Tiếng đàn day dứt của Perlman đã làm “sởn gai ốc” cho bất cứ ai và trở thành giai điệu chính của phim. Sau này chính Itzhak Perlman đã nói rằng, sự đóng góp của ông trong Schindler’s List là một trong những khoảnh khắc đáng tự hào nhất trong sự nghiệp lừng lẫy của mình.

Schindler’s List được hoàn tất trong thời gian 72 ngày. Với kinh phí 22 triệu USD, đây là bộ phim đen trắng tốn kém nhất từng được thực hiện từ trước tới nay. Schindler’s List cũng là bộ phim đầu tiên bị xếp loại R (dưới 17 tuổi phải có cha mẹ hoặc người lớn đi kèm) của Steven Spielberg.

Và bộ phim trắng đen ăn khách nhất mọi thời đại

Bộ phim được công chiếu đầu tiên tại New York, Los Angles và Toronto vào ngày 15/12/1993. Mùa Hè năm đó cả thế giới đã rồng rắn kéo nhau đi xem những con khủng long gầm thét trong “quả bom tấn” Jurassic Park của Spielberg, tạo nên doanh thu khổng lồ 914,7 triệu USD. Nay người ta tò mò đi xem thử bộ phim “nghệ thuật phi thương mại” đầu tiên của Steven Spielberg như thế nào.

Trái với dự đoán, Schindler’s List đã thu hút khán giả một cách bất ngờ. Chưa bao giờ khán giả Mỹ lại đổ xô đi xem một bộ phim chiến tranh đen trắng, dài 3 giờ 15 phút với câu chuyện hoàn toàn đen tối và quá bi tráng như vậy. Bộ phim thu được 96,1 triệu USD tại Mỹ và hơn 321,2 triệu USD trên khắp thế giới. Vào thời điểm đó, báo chí thế giới hầu như chỉ nói về Schindler’s List. Hàng loạt phóng sự, những cuộc điều tra đã hé mở cuộc đời bí ẩn và kết cuộc buồn thảm của người hùng thầm lặng Oskar Schindler.

Đặc biệt tại Đức, bộ phim có đông người xem nhất trên thị trường quốc tế với hơn 5,8 triệu vé đã được bán ra. Đa số là khán giả trẻ đã vào rạp xem và những gì hiện ra trên màn ảnh khiến cho họ bàng hoàng. Họ bước ra khỏi phòng chiếu với gương mặt ràn rụa nước mắt và bước chân nặng trĩu. Họ không thể tin được cha ông của mình có thể phạm những tội ác tày đình như thế đối với loài người. Một số khán giả Đức khi gặp người Do Thái xa lạ đã không ngần ngại ôm lấy họ khóc nức nở, hoặc lạy rạp trước mặt họ như để cầu xin một sự tha thứ cho những lỗi lầm của ông cha ở quá khứ. Tất nhiên Schindler’s List được đón nhận nồng nhiệt tại Israel, nơi nó được phát sóng trên truyền hình công cộng hàng năm vào ngày tưởng niệm Holocaust, không bị lược bỏ, không bị kiểm duyệt và không bị cắt ngang bởi quảng cáo.

Schindler’s List là bộ phim được giới phê bình ca ngợi nhiều nhất trong sự nghiệp lừng lẫy của Steven Spielberg. Nó giành 7 giải Oscar, trong đó có giải Phim hay nhất và Đạo diễn xuất sắc nhất. Sau phim này, cả hai diễn viên Liam Neeson và Ralph Fiennes đều nổi tiếng. Schindler’s List luôn có mặt trong Top 10 – các danh sách bình chọn những phim hay nhất mọi thời đại ở bất cứ quốc gia nào.

Giữ đúng lời hứa, toàn bộ lợi nhuận mà Steven Spielberg được hưởng theo sau sự thành công của bộ phim, đã được ông thành lập Quỹ tài trợ Survivors of the Shoah Visual History Foundation (Hình ảnh lịch sử của những nạn nhân sống sót sau nạn Diệt chủng Do Thái), một tổ chức phi lợi nhuận có mục tiêu là lưu trữ những chứng cớ được quay thành phim của nạn nhân sống sót Holocaust.
Bá Vũ


Friday, July 22, 2016

TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIAO TIẾP MẸ VÀ BÉ

Mình vốn đang chập chững học làm bố, mình có theo dõi fb Anh Nguyen - Bác sĩ Dinh dưỡng Nguyễn Hoàng Anh và thấy có rất nhiều bài viết hay. Mình muốn cóp nhặt về để những ai quan tâm có thể dễ dàng tìm kiếm và đọc lại (Bởi trên Fb rất dễ trôi bài đi) - Toàn bộ nội dung mình copy nguyên gốc

TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIAO TIẾP MẸ VÀ BÉ TRONG PHÁT TRIỂN NÃO BỘ VÀ KĨ NĂNG XÃ HỘI.

Trong 1 nghiên cứu của GS.BS.Tronick, ĐH Y Harvard, Mỹ, Giáo sư cho thấy các bé từ rất sớm dưới 1 tuổi đã có thể nhận biết và ảnh hưởng hành vi của cha mẹ và người chăm sóc bé. Cũng như sự phát triển não bộ, xây dựng kĩ năng ngôn ngữ và giao tiếp xã hội phần lớn thông qua tương tác yêu thương triều mến và nhẫn nại của cha mẹ. Nếu cha mẹ quá áp lực trong quá trình chăm sóc bé dẫn đến ít biểu hiện những tương tác giao tiếp với bé, bé cũng bị rơi vào những trạng thái khủng hoảng giống mẹ, ngày qua ngày bé sẽ biểu hiện khủng hoảng hơn và chậm phát triển não bộ và các kĩ năng giao tiếp xã hội khác, bé cũng có thể ngày một biếng ăn hơn do bé cũng bị stress như mẹ.
Lời khuyên của Giáo sư: mẹ hãy thường xuyên trò chuyện với bé, đáp ứng trìu mến các phản ứng của bé (bé muốn trò chuyện và giao tiếp), còn gia đình cũng hãy giúp mẹ giảm áp lực bản thân. Mẹ làm được những điều này, bé sẽ phát triển não bộ tốt, kĩ năng giao tiếp xã hội tốt và các vấn đề trong ăn uống cũng dần biến mất.

CÀNG ÁP LỰC BÉ CÀNG BIẾNG ĂN
Gs. Tronick nhấn mạnh rằng: những cảm xúc và biểu hiện hành vi của cha mẹ, được bé cảm nhận và bắt đầu phân tích. Do đó, những biểu hiện áp lực của mẹ trong việc ăn uống của bé, chỉ làm vòng luẩn quẩn biếng ăn không lối thoát. Chỉ cần nhận ra nguyên nhân của biếng ăn, quyết tâm thay đổi và nhẫn nại thì bé sẽ thay đổi.
MỘT NGÀY MẸ DÀNH BAO LÂU NÓI CHUYỆN VỚI BÉ
Bé rất thích mẹ nói chuyện với bé, bé thích nghe giọng của mẹ và nhìn khuôn mặt biểu cảm của mẹ (Theo viện Phát triển vận động nhi khoa của Mỹ), mẹ nên dành thời gian giao tiếp với bé càng nhiều càng tốt, sẽ rất có ích trong việc phát triển não bộ và ngôn ngữ cho bé. Tối thiểu mẹ nên dành 45 phút đến vài giờ trong ngày để giao tiếp với bé
NHỮNG LÚC NÀO MẸ VÀ BÉ GIAO TIẾP TỐT NHẤT:
+ Khi bé khóc, ẵm bé lên vai thay vì đung đưa hát ru, thì nên trò chuyện với bé, hỏi bé "sao con khóc vậy?, mẹ đây nè, bé yêu của mẹ", dùng từ rõ ràng nhẹ nhàng trìu mến, bé sẽ dễ dàng tự điều chỉnh và không khóc nữa, nếu bạn làm tốt điều này, tầng xuất khóc của bé sẽ giảm hẳn trong ngày (theo GS.BS. McLeod)
+ khi thay tả cho bé, mẹ nói với bé những gì mẹ đang làm. VD như: "ngoan lắm nè, con nằm nghiêng qua trái 1 tí nhé, để mẹ tháo cái móc ra, giỏi lắm bé yêu của mẹ, vân vân" Bạn sẽ thấy bé sẽ phản ứng lại bạn khi bạn nói mỗi qui trình
+ Khi đi ngủ, đọc truyện cho bé, chỉ bé những hình ảnh và nói chuyện về nhân vật trong hình. VD như: hình con thỏ: "chào bạn thỏ trắng, đôi tai dài thật dài,..), bé sẽ rất chú ý điều bạn đang nói và não bộ sẽ bắt đầu ghi nhận
ĐIỀU GÌ NÊN TRÁNH TRƯỚC MẶT BÉ 
*Giảm stress tối đa
*Tránh tranh cãi với chồng hay các thành viên khác trong gia đình 
* 
Note:
GS.BS. Tronick, ĐH Y Harvard của Mỹ báo cáo tại Hội nghị Y khoa với chủ đề phát triển trí thông minh ở trẻ nhỏ với bài bào cáo Infant emotions in normal and pertubated interactions.
GS.BS. McLeod báo cáo bài Putting the Baby Down”: The Role of Physical Proximity in Mother-Infant Vocal Communication. năm 2005
Nguồn video: từ nghiên cứu của GS.Tronick- Still face experiment

Thursday, July 21, 2016

[Film Review] 12 Angry Men - 12 Người đàn ông giận giữ!

==================================== 

12 Angry Men – Bộ phim tạo cảm hứng cho các luật gia


Dù không thành công về mặt doanh thu, 12 Angry Men đã để lại dấu ấn trong lịch sử điện ảnh Mỹ và được cả giới phê bình lẫn khán giả đại chúng đánh giá cao
Nước Mỹ là nơi mà những chuyện nhỏ nhặt nhất người ta cũng dắt nhau ra tòa. Đó là nguyên nhân khiến các tác phẩm nghệ thuật về tòa án rất được ưa chuộng. Bộ phim 12 Angry Men (12 người đàn ông giận dữ) năm 1957 là một kiệt tác kinh điển của thể loại này.

Từ vở kịch truyền hình…

Page-1-Image-2
Page-1-Image-3
Kịch bản 12 Angry Men của Reginald Rose lúc đầu được sản xuất cho truyền hình và phát sóng trực tiếp trong chương trình Studio One của đài truyền hình CBS, ngày 20–9–1954. Vở kịch thu hút sự chú ý của ngôi sao điện ảnh Henry Fonda. Ông thích vở kịch đến nỗi không chỉ muốn đóng vai chính (vai bồi thẩm viên số 8) mà còn muốn đích thân sản xuất bộ phim. Tác giả Reginald Rose vừa sản xuất vừa chịu trách nhiệm chuyển thể, ông hầu như chẳng cần làm gì khi đưa gần như nguyên vở kịch của mình lên màn ảnh rộng. Lúc ấy, Sidney Lumet đạo diễn khá thành công nhiều phim truyền hình nên ông được mời ngồi ghế đạo diễn. 12 Angry Men trở thành bộ phim điện ảnh đầu tiên trong sự nghiệp lẫy lừng của Sidney Lumet. 12 Angry Men kể về câu chuyện một bồi thẩm đoàn 12 người đàn ông cân nhắc bị cáo có tội hay vô tội giết cha mình. Bộ phim đề cập đến nhiều kỹ thuật xây dựng sự đồng thuận và những khó khăn nảy sinh trong quá trình đó.

…đi vào lịch sử điện ảnh

Page-1-Image-4
Page-1-Image-5
Dù được giới phê bình đón nhận nồng nhiệt với 3 đề cử giải Oscar (Phim hay nhất, Đạo diễn xuất sắc nhấtKịch bản chuyển thể hay nhất) nhưng 12 Angry Men không thành công về thương mại. Chỉ đến khi chiếu trên truyền hình, phim mới tìm được khán giả và trở thành tác phẩm kinh điển, một trong những bộ phim quý giá của lịch sử Hollywood.

Henry Fonda coi 12 Angry Men là một trong ba phim hay nhất ông từng đóng
Năm 2010, Sonia Sotomayor, phó thẩm phán của tối cao pháp viện Hoa Kỳ, phát biểu trước cử tọa rằng 12 Angry Men chính là bộ phim đã truyền cảm hứng cho bà theo đuổi sự nghiệp trong ngành luật. Tháng 6–2008, 12 Angry Men được viện phim Mỹ xếp hạng nhì trong danh sách 10 phim hay nhất thuộc thể loại phim pháp đình.

Tình tiết đáng chú ý
12 Angry Men sử dụng hầu như chỉ một bối cảnh. Toàn bộ những cảnh diễn ra bên ngoài phòng bồi thẩm đoàn tổng cộng chỉ dài có 3 phút, trong khi 93 phút còn lại của bộ phim được quay gần như toàn bộ bên trong phòng hội thẩm khép kín. Ngoại trừ hai thành viên của bồi thẩm đoàn có trao đổi tên trong khi rời khỏi trụ sở tòa án, các nhân vật còn lại trong phim hầu như không có cái tên nào cụ thể: Bị cáo được gọi là “The boy” (thằng bé), còn 2 nhân chứng thì được gọi là “Old man” (ông lão) và “The lady across the street” (quý bà bên kia đường).


BÁ VŨ

 


Wednesday, July 20, 2016

[Film Review] Train Of Life - Chuyến tàu ước mơ - Train de vie - 1998

=====================================
 Train of Life là câu chuyện về cộng đồng người Do Thái trong một ngôi làng nhỏ ở Đông Âu năm 1941. Lo sợ việc sẽ bị phát xít Đức truy đuổi và trục xuất, người dân trong ngôi làng này đã quyết định tổ chức một chuyến tàu giả để thoát khỏi quân Đức. Bộ phim đã cho thấy sự thông minh, tài giỏi và thái độ sống tích cực của những người Do Thái, trong bối cảnh chiến tranh loạn lạc.


Tuesday, July 19, 2016

[Film Review] SON OF SAUL - Con trai của Saul - 2015

======================================== 


SON OF SAUL - SAO ĐỜI NÀY LẠI CÓ MỘT PHIM ĐẦU TAY TUYỆT VỜI, VÀ ĐẦY ÁM ẢNH NHƯ THẾ!

Năm 2015 vừa rồi có quá nhiều phim hay, nhưng tôi chỉ chờ mỗi nó - SON OF SAUL (Con trai của Saul) - Bộ phim của Hungary vừa đoạt giải Oscar Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất hồi cuối tháng 2 vừa qua... Tôi hiện đang rất bận rộn cho một dự án quan trọng trong năm nay, nhưng khi chỉ mới xem SON OF SAUL chưa đến 10 phút, tôi quyết định chính mình sẽ dịch phim này để có thể hiểu thấu đáo và trọn vẹn bộ phim...
Trước tiên tôi mong chờ SON OF SAUL bởi vì chủ đề Holocaust (thảm sát người Do Thái trong Thế chiến thứ 2) là thể loại phim mà tôi không bao giờ bỏ qua. Không biết ở VN có ai mê đắm phim về Holocaust nhiều như tôi không nhỉ? Tôi đoán chắc là không đâu, bởi 99% phim về Holocaust chỉ mang lại cho người xem sự kinh sợ ghê tởm, kèm theo đó là tràn ngập nỗi bi thương và sự đau đớn. 
 
 
 
Nhưng chủ đề Holocaust là bất diệt và sẽ luôn có chỗ đứng vững chắc, cho đến khi nào con người còn tồn tại trên đời này, bởi đây là vết nhơ khủng khiếp nhất, không bao giờ rửa sạch được trong lịch sử nhân loại. Tính từ khi kết thúc Thế chiến thứ 2 đến nay đã hơn 3/4 thế kỷ, nhưng hầu như năm nào cũng có ít nhất một phim về Holocaust được làm ở đâu đó trên thế giới, như để nhắc nhớ mọi người không bao giờ được quên thảm kịch này. Ở VN, không tính Đại sứ quán Israel, thì có lẽ tôi là cá nhân duy nhất cứ đến ngày 27/01 hàng năm (kể từ 2014), tôi đều đứng ra tổ chức tưởng niệm Holocaust bằng những buổi chiếu phim tại hai nơi: ART HOUSE SAIGON và SALON ĐIỆN ẢNH CÀ PHÊ THỨ BẢY.
 
Năm 2014, phim đoạt Oscar Phim nói tiếng nước ngoài hay nhất cũng là phim về Holocaust - IDA của Ba Lan. Thật tình cờ, cả IDA lẫn SON OF SAUL đều sử dụng khung hình cổ điển 4x3. Cả hai phim cùng không dùng nhạc nền trong phim (một điều cực kỳ hiếm thấy trong điện ảnh ngày nay). Cả hai đều sáng tạo ra một ngôn ngữ điện ảnh độc đáo và riêng biệt chưa từng áp dụng xưa nay: IDA thì sử dụng khung hình lệch, bất đối xứng - nghĩa là nhân vật không bao giờ được cho xuất hiện nguyên vẹn trong hình. 
 
Còn SON OF SAUL lại chọn cách tiếp cận kỳ lạ nhất. Phim quay nhựa 35mm, chứ không quay kỹ thuật số như hầu hết phim kinh phí thấp hiện nay, và hầu như chỉ dùng ống kính 40mm (trong điện ảnh rất hiếm ai dùng) với tiêu cự hẹp, và nét mỏng đến mức nhân vật chỉ cần xê dịch một chút là mất nét ngay. Từ đầu đến cuối phim, máy quay chỉ bắt cận mặt, hoặc sau gáy nhân vật chính (giữ khoảng cách khoảng 20cm). Việc sử dụng ống kính 40mm, khiến tất cả những gì xảy ra xung quanh và sau lưng nhân vật chính đều mờ mờ không rõ nét - và đây chính là chủ đích của đạo diễn, bởi đó hầu hết là những cảnh tàn bạo và rùng rợn mà thần kinh của người xem sẽ không thể chịu đựng nổi nếu được xem quá rõ. 
 
Trong đời tôi đã xem nhiều phim quá đỉnh về các cú máy cầm tay dài, nhưng riêng phim này nó ở một đẳng cấp khác hẳn. Nhà quay phim Mátyás Erdély đã biến máy quay trở thành nhân vật thứ ba - khán giả - như người trong cuộc để chứng kiến bi kịch thảm khốc đang diễn ra trước mắt mình. Âm thanh của phim mới thật là đáng sợ, nó sắc lẻm và lạnh lùng. Nhà thiết kế âm thanh Tamás Zányi đã mất đến 5 tháng để tạo ra những âm thanh đầy ám ảnh cho bộ phim này. 
 
Đề tài Holocaust xưa nay có cả ngàn phim, nhưng SON OF SAUL chỉ mới là bộ phim đầu tiên đề cập đến biệt đội Sonderkommando. Biệt đội này do phát xít Đức thành lập, gồm các tù nhân Do Thái khoẻ mạnh, được phân công làm nhiệm vụ thu gom quần áo, đồ trang sức, vật dụng quý giá của các nạn nhân, dọn dẹp xác chết trong lò hơi ngạt và đưa vào lò thiêu. Cứ sau vài tháng, họ đều bị bọn phát xít giết hại và thay bằng các nhóm khác, nhằm bịt miệng thủ tiêu các nhân chứng tố cáo sau này. Suốt nhiều năm sau chiến tranh, và cho đến tận bây giờ, nhiều người Do Thái vẫn còn kỳ thị, rất thù ghét và kinh tởm cái tên Sonderkommando, vì họ cho rằng chúng hợp tác với bọn phát xít để tàn hại đồng bào... Và SON OF SAUL được làm ra với mục đích để mọi người thông cảm và hiểu rõ hơn về biệt đội đáng thương này và rửa oan cho họ!
 
... Liên tiếp 2 đêm, tôi đã dịch xong SON OF SAUL... Phim chỉ có khoảng 560 dòng thoại rất ngắn gọn súc tích, nhưng lại khó dịch hơn tôi tưởng, bởi nó tổng hợp từ 8 ngôn ngữ được sử dụng trong phim, với nhiều thuật ngữ về Sonderkommando và Do Thái cổ... Nhờ thế mà tôi cũng nhét được một mớ kiến thức vào đầu.
... và cũng từ đây, SON OF SAUL sẽ đứng thứ 3 trong danh sách 10 phim về Holocaust mà tôi yêu thích nhất. 
 
BÁ VŨ