Luyện tập các cảm giác cho trẻ

video


1) Tầm quan trọng của việc luyện tập các Cảm giác
Người xưa có câu, “there is nothing in the intellect that is not first in the senses” tạm dịch là “Không có trí tuệ nào mà không bắt nguồn từ các cảm giác”. Maria Montessori nói rằng các cảm giác giúp con người khám phá thế giới, mở ra con đường tới sự hiểu biết.
Điều đầu tiên và quan trọng nhất là trí tuệ/sự hiểu biết của trẻ không hoạt động tách biệt mà luôn luôn gắn bó mật thiết với cơ thể trẻ, cụ thể là với hệ thống thần kinh và cơ bắp của trẻ.
Một đứa trẻ sơ sinh bắt đầu cuộc sống với cái đầu không có gì nhiều hơn một chú cún sơ sinh. Tuy nhiên, chỉ trong vòng một thời gian ngắn từ 3 tới 4 năm, mọi đứa trẻ bình thường sẽ có những khái niệm như là mềm, cứng, chiều cao, chiều dài, điều tốt, điều xấu vvv. - những khái niệm thuộc về trí tuệ mà không con chó nào có thể có được cho dù nó có sống cả 100 năm. Mặc dù cả đứa trẻ và con chó đều sống trong cùng một thế giới, cùng sờ đồ vật giống nhau, cùng nghe âm thanh giống nhau, vvv. Mặc dù dưới kính hiển vi, không có sự khác biệt đáng kể nào giữa cấu trúc hệ thần kinh và cơ bắp của chúng (đứa trẻ & con chó).
Điều gì tạo nên sự khác biệt đó? Chúng ta chỉ có thể suy luận là đứa trẻ phải sở hữu trong bản thân nó từ khi sinh ra, khả năng (chỉ tiềm năng lúc ban đầu) trừu tượng hóa hoặc chiết/tách từ những vật cụ thể những tính chất cốt yếu của chúng. Nếu chúng ta quan sát một đứa trẻ nhỏ từ 1 tới 2 tuổi, chúng ta có thể thấy rằng một đứa trẻ không chỉ quan tâm tới vật thể nói chung mà còn quan tâm tới các tính chất của chúng như là tính thô nhám, tính nhẵn mịn, tính cứng rắn, tính mềm mại, mùi vị (vị giác), vvv.
Chúng ta, những người lớn, sở hữu một kho bao la những ý niệm/khái niệm trừu tượng trong đầu. Chúng đến từ đâu? Bằng cách nào và khi nào chúng ta đã có được chúng? Chúng ta có thể không nhớ nhưng một điều chắc chắn là: Chúng ta có khái niệm về sự nhẵn mịn từ những vật nhẵn mịn, sự thô nhám từ những vật thô nhám vvv. Tất cả các điều này có nghĩa là chúng ta sở hữu trong bản thân mỗi chúng ta – như một phần của phát triển trí tuệ - một khả năng mà theo một cách bí mật nào đó có thể rút ra từ sự vật bên ngoài những tính chất hoặc khái niệm, thực thể trừu tượng nhất định mà chỉ tồn tại trong đầu chúng ta.
Kiến thức và sự hiểu biết về thế giới được xây dựng bởi các cảm giác. Đây là một quá trình chậm diễn ra trong suốt thời thơ ấu. “Giáo dục trong thời thơ ấu nên dựa hoàn toàn trên nguyên tắc: Giúp đỡ sự phát triển tự nhiên của trẻ.” (theo cuốn sách Discovery of the Child, MM, pg. 144). Trong suốt những năm từ 3 tới 6 tuổi, một đứa trẻ phát triển các cảm giác của nó, và vì vậy sự chú ý của nó hướng tới môi trường xung quanh. Trẻ bị định hướng bởi sự kích thích hơn là bởi lý do. Chính vì vậy trong giai đoạn này, trẻ nên được tiếp xúc một cách có phương pháp trước những kích thích mà sẽ phát triển cảm giác của trẻ một cách có lý trí, và vì thế đặt nền tảng cho năng lực trí tuệ của trẻ.
Tóm lại, một đứa trẻ trải nghiệm SỰ KÍCH THÍCH và CẢM GIÁC để hình thành nên TRI GIÁC, điều này trở nên ý nghĩa hơn khi NGÔN NGỮ phát triển và trợ giúp trong sự hình thành nên các KHÁI NIỆM – mang đến cho chúng ta sự hiểu biết trọn vẹn.
Một trong những mục tiêu của luyện tập Cảm giác nên là giúp trẻ có được sự tinh vi tối đa của các cảm giác. Bằng việc nhân lên các trải nghiệm cảm giác và phát triển khả năng đánh giá những sự khác biệt nhỏ nhất ở trong các sự kích thích khác nhau, khả năng nhạy cảm/cảm nhận của trẻ được tinh luyện và niềm vui thích của trẻ được tăng lên. “Vẻ đẹp được tìm thấy trong sự hài hòa, và sự hài hòa bao hàm những sự ham thích, nhưng tất cả những điều này cần có một sự tinh vi của các cảm giác để cảm nhận được” (Theo cuốn sách Discovery of the child, MM, pg. 148).
Việc luyện tập các cảm giác không chỉ đáp ứng các chức năng chung giúp trẻ thích nghi với nền văn minh đương đại, mà còn chuẩn bị cho trẻ nhu cầu cấp bách của cuộc sống. Một sinh viên, thậm chí sau khi đã hiểu một vấn đề, thường thấy quá khó để tiến hành một nhiệm vụ/công việc mà anh ta được mong đợi phải tiến hành bới vì quá trình giáo dục của anh ta thiếu một nhân tố căn bản - sự hoàn hảo của cảm giác. Ví dụ: khi một đầu bếp được yêu cầu mua cá tươi sẽ không thể làm được nếu cô ta không có cái mũi và mắt được luyện tập để nhận biết sự tươi. Khi một sinh viên y học về nhịp đập tim của bệnh nhân và không thể phân biệt được sự đập mạnh/nhanh thì việc học chỉ là phù phiếm không có kết quả. Mọi người phải có được kỹ năng qua sự luyện tập lặp lại. Tóm lại, sự thông minh thường vô hiệu nếu thiếu luyện tập và sự luyện tập này gần như luôn luôn là sự luyện tập của các cảm giác.
Việc luyện tập các cảm giác cho người lớn khó như là dạy người lớn cách chơi piano. Việc luyện tập các cảm giác phải bắt đầu trong giai đoạn hình thành của cuộc sống nếu chúng ta ước muốn làm hoàn hảo chúng sau này qua giáo dục và sử dụng chúng trong mọi kỹ năng cụ thể của con người. Đây là lý do tại sao việc luyện tập nên được bắt đầu có phương pháp trong thời thơ ấu và tiếp tục suốt thời gian một người chuẩn bị bản thân cho cuộc sống thực tế mà anh ta sẽ phải sống thông qua giáo dục.
Giáo cụ Cảm giác bao gồm một chuỗi các vật thể được nhóm lại theo tính chất vật lý mà chúng có, ví dụ màu sắc, hình dáng, kích cỡ, âm thanh, cấu tạo bề mặt, nhiệt độ, vvv. Từng nhóm vật thể này trình bày cùng một tính chất nhưng khác nhau về mức độ. Chúng được phân loại để có mức độ cao nhất và thấp nhất. Khi đi cùng nhau chúng sẽ chứng minh sự khác biệt tồn tại trong mỗi chuỗi. Sự khác biệt này đánh thức/gợi sự quan tâm của trẻ.
Các nghiên cứu tâm lý chỉ ra rằng cần thiết phải tách biệt các cảm giác càng nhiều càng tốt nếu vài tính chất được đưa ra. Sự hoàn hảo của bài tập cảm giác là loại bỏ mọi nhân tố làm xao lãng. Trẻ, kẻ khao khát khám phá tự nhiên, sẽ tự nguyện nhắm mắt để bị bịt mắt khi khám phá những hình thù khác nhau với bàn tay hoặc nghe những âm thanh nhỏ nhất.
Để giúp trẻ đạt được tối đa sự tinh vi của các cảm giác, đứa trẻ cần được đưa những sự kích thích mạnh đối ngược đầu tiên và trước nhất, không phải là những kích thích không đủ hoặc kích thích quá đối với trẻ. Ví dụ: Dạy về nhiệt độ thì nên đưa sự tương phản giữa 2 cái nóng nhất và lạnh nhất trước, cái nóng vừa để trải nghiệm sau. Qua trải nghiệm và quan sát kỹ càng, Người hướng dẫn nên tìm mức độ kích thích hoàn hảo cần thiết và cung cấp các hoạt động phù hợp cho trẻ với sự trợ giúp của các hướng dẫn sau đây:
a) Giới hạn thời gian chú ý. Cho phép trẻ thay đổi hoạt động khi chán
b) Kích thích không đủ do thiếu sự chuẩn bị giáo cụ dạy học: quá đơn giản, quá khó, hoặc không hấp dẫn
c) Kích thích quá. Quá nhiều sự làm sao lãng do quá nhiều màu sắc lòe loẹt, đồ chơi thiết kế phức tạp và dụng cụ giảng dạy đi với sự thiếu chỉ dẫn của Người hướng dẫn

2) Những ảnh hưởng lên cách nghĩ của Montessori đối với việc hình thành phương pháp giáo dục các cảm giác
Maria Montessori thiết kế bộ dụng cụ giáo dục cảm giác dựa trên ý tưởng trong nghiên cứu của Jean Itard và Edouard Seguin.
Jean Itard
Jean Itard, một nhà tiên phong trong lĩnh vực sư phạm, nổi tiếng bởi cố gắng giáo dục Vittorio (“Đứa trẻ hoang dã của Aveyron”), nhấn mạnh tầm quan trọng về việc giáo dục các cảm giác. Bước đầu tiên của ông là tách biệt, càng nhiều càng tốt, từng cảm giác, ví dụ: bịt mắt Vittorio khi dạy các âm thanh khác nhau để Vittorio có thể tập trung và trải nghiệm từng âm thanh mà không bị sao lãng. Bước thứ hai là đưa Vittorio hai âm thanh để so sánh xem Vittorio có phân biệt được chúng. Những sự kích thích này đầu tiên đối nghịch rất mạnh và tiến dần tới sự khác biệt nhỏ.
Ý tưởng mà Montessori lấy từ Itard là:
• Tách biệt các cảm giác
• Trình bày sự kích thích đối nghịch mạnh trước

Edouard Seguin
Seguin nghiên cứu về một phương pháp giáo dục cho trẻ kém thông minh và gọi đó là phương pháp sinh lý. Ý tưởng của ông về giáo dục, giống như Itard, là tập trung vào giáo dục cơ bản về cảm giác, tuy nhiên ông tập trung vào giáo dục hệ thống cơ bắp và thần kinh của trẻ.
Montessori có cùng ý tưởng với Seguin, bà tin rằng phương pháp và giáo cụ giảng dạy thiết kế để giúp những đứa trẻ không bình thường có thể làm lợi cho những đứa trẻ bình thường. Một trong những điểm đặc trưng trong thiết kế của những giáo cụ cảm giác là bất cứ khi nào có thể, hoạt động cơ bắp của trẻ nên để hướng tới chuẩn bị cho những ứng dụng sau này.
Ví dụ: một vài giáo cụ cần sự sử dụng của ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa vì vậy các ngón này sẽ được củng cố sức mạnh và sự phối hợp. Chúng tôi gọi cái này là “sự nắm chặt bút” vì ba ngón tay này sẽ điều khiển bút để viết.
Montessori – sensitive period – giai đoạn nhạy cảm
Sự đóng góp đầu tiên và giá trị nhất của Montessori đối với giáo dục là học thuyết về các giai đoạn nhạy cảm. “Giai đoạn nhạy cảm” được định nghĩa là giai đoạn nhất định một đứa trẻ sẽ trải qua mà khi đó chúng bộc lộ những khả năng và năng lực tinh thần mà sau đó sẽ biến mất. Trong giai đoạn này, khi một sự nhạy cảm cụ thể được đánh thức bên trong một đứa trẻ, nó như một thứ ánh sáng hấp dẫn được tỏa ra trên một vài vật thể nhất định.
Một giai đoạn nhạy cảm không chỉ đặt trí óc trẻ trong mối quan hệ với các yếu tố chọn lọc nhất định trong môi trường, mà còn thiết lập và hoàn hảo sự phát triển của chức năng cảm giác đó. Montessori xác nhận rằng có một giai đoạn để tinh luyện các cảm giác, và khi đó bà đưa cho trẻ các giáo cụ cảm giác. Các giáo cụ này không chỉ đáp ứng sự quan tâm tự nhiên của trẻ trong các ấn tượng cảm giác, mà còn thông qua các hoạt động chúng kích thích, tinh luyện các cảm giác và hoàn hảo các chức năng cảm giác đó.
Cùng coi luyện tập Các cảm giác trong lớp học Montessori tại đây: https://www.facebook.com/1297930273611342/videos/1303502919720744/
Còn đây là danh sách một số Các cảm giác được luyện tập: https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=1328131883924514&id=1297930273611342

0 nhận xét:

Đăng nhận xét

 
Join Our Newsletter

Get All The Latest Updates Delivered Straight Into Your Inbox For Free!